Mai Thanh Hải

"Tin thì tin. Không tin thì thôi!"..

Archive for Tháng Bảy, 2011

ĐÀI TRINH SÁT VÀ CHỈ THỊ MỤC TIÊU MANG VÁC FARA-1

Posted by Mai Thanh Hải trên 29/07/2011

Kỹ thuật Quân sự – Đài 1L111 Fara-1 được thiết kế cho nhiệm vụ trinh sát, phát hiện các mục tiêu đang di chuyển trên mặt đất (như binh sĩ hoặc nhóm binh sĩ, xe cộ và phương tiện cơ giới bọc thép), chỉ thị mục tiêu ngắm bắn cho các loại vũ khí tự động, chống đối phương đánh cường tập ở mọi thời điểm, và điều kiện thời tiết (bao gồm cả trong điều kiện bị sương mù, khói, bụi triệt tiêu tầm nhìn), cũng như giám sát mục tiêu hay khu vực bảo vệ, theo chế độ cảnh giới tự động.

Bên cạnh nhóm nhiệm vụ trinh sát, đài Fara-1 có thể đồng bộ cùng các khí tài quang học và ảnh nhiệt, để làm nhiệm vụ theo dõi giám sát đối tượng. Trên thế giới, xét riêng về tính đa dụng, thì hiện nay hệ thống đài này không có đối thủ tương xứng.

Cấu hình:


Đài Fara-1 bao gồm 1 bộ thu phát sóng, 1 khối an-ten kèm cơ cấu xoay hướng, 1 bảng điều khiển, giá 3 chân, 1 thùng chứa radar, 1 cổng chia phần tử cho súng phóng lựu/súng máy, 1 khối pin tiêu chuẩn và bộ cấp điện dùng nguồn điện của xe chiến đấu. Kết cấu, trọng lượng và kích cỡ của đài, được thiết kế vừa vặn cho 1 trắc thủ mang vác và vận hành.

Thông số kỹ thuật cơ bản:


Băng sóng: xăng-ti-mét
Phạm vi trinh sát:
– Cự ly (km): tới 5
– Phương vị (độ): 24, 45, 90, 120
Cự ly phát hiện mục tiêu đang di chuyển (với xác suất phát hiện 0,8), ít nhất (km):
– Người: 2
– Xe tăng: 4
Sai số định vị mục tiêu:
– Cự ly (m): 20
– Phương vị (mil): 00 – 20
Thời gian triển khai/thu hồi (phút): 1
Thời gian hoạt động liên tục với pin tiêu chuẩn (giờ): 6
Thời gian giữa 2 lần phát sinh sự cố (giờ): 5.000
Trọng lượng (kg): 16,5
Giá bán ước tính: USD 100.000

Posted in QUÂN SỰ-QP | Leave a Comment »

THÁNG NĂM NÀY, GIÓ THỔI DỌC TRƯỜNG SƠN

Posted by Mai Thanh Hải trên 27/07/2011

Mộ chí các Liệt sĩ Hà Nội tại Nghĩa trang Trường Sơn

Mai Thanh Hải Blog – Những chuyến công tác vào sâu phía Nam, nếu đi theo đường bộ, mình đều cố gắng đi theo đường Hồ Chí Minh, bằng ôtô. Bắt đầu từ Thanh Hóa, rừng núi đã bắt đầu nhuốm màu linh thiêng, huyền thoại, rưng rưng ký ức thời chiến tranh. Năm trước, đúng dịp 27/7, mình và cu Thuần đã hẹn trước sẽ vào Nghĩa trang Trường Sơn thắp hương cho các anh chị. Nhưng hôm đó, cả 2 anh em đều bận nên không đi được. Thật kỳ lạ, cả ngày mình cứ bứt rứt không yên, mọi việc trong ngày chẳng đâu vào đâu. Cu Thuần cũng vậy. Rút cục, buổi chiều, 2 anh em quyết định: “Thay nhau lái xe trong đêm, vào thắp hương cho các anh chị”.

Mộ Liệt sĩ chưa biết tên

Một đêm thức trắng, xe chạy liêng biêng giữa rừng núi mờ ảo, sương khói linh thiêng. Đường vắng không 1 bóng người, nửa đêm tới địa phận Quảng Bình, qua đèo Đá Đẽo, hang 8 Cô… có những lúc sương mù đặc quánh xung quanh, đèn vàng soi sương cũng không nhìn thấy đường, tụi mình lầm rầm khấn vong linh các Liệt sĩ và thật kỳ lạ, sương mù tan ngay, trả lại đường cho xe chầm chậm trôi giữa ánh trăng cuối rừng dịu nhẹ.

Buổi sáng, đến Cam Lộ lúc mặt trời vừa hé mắt khỏi rừng cao su. Rửa mặt, thay quần áo tinh tươm và ôm bó hoa cúc trắng, nhẹ chân đặt lên Tượng đài, thắp hương bó hương trầm, cúi đầu thành kính, ngẩng đầu lên, bó hương cháy rừng rực giữa trời Quảng Trị xanh ngắt, cao lộng. Đến từng khu mộ của những anh chị quê hương Thanh Hóa, Hải Phòng, Hà Nội, Hà Tây, cẩn thận thắp từng nén nhang trên mộ Liệt sĩ, thấy người nhẹ bẫng, đầu sạch bong mọi suy nghĩ… trước những người đang nằm đó, mãi mãi tuổi thanh xuân.

Một ngày ở Nghĩa trang Trường Sơn, buổi trưa nằm ngửa trên cỏ, nhìn bầu trời giới tuyến năm nào trong veo, cao hút, tự dưng thấy mình quá nhỏ bé, vô nghĩa trước trùng điệp những người nằm xuống.

Nhà thơ Văn Công Hùng tại Lý Sơn, Quảng Ngãi (7/2011)

Ngày 27/7, xin được thắp trên mỗi ngôi mộ Liệt sĩ nén hương tưởng nhớ, tri ân. Mỗi gia đình trên đất nước này được bình yên trong hòa bình như hôm nay, có công lớn của các anh chị – những người đã ngã xuống, những người còn đang sống với thương tật, bạo bệnh, di chứng chiến tranh trong đầu.

Xin đăng lại bài thơ của Nhà thơ Văn Công Hùng, ra đời cách đây 12 năm, nhưng vẫn giữ nguyên giá trị tinh khiết, nhất là Ngày Kỷ niệm Thương binh – Liệt sỹ.
————————————-

THÁNG NĂM NÀY GIÓ THỔI DỌC TRƯỜNG SƠN

Tháng năm này gió thổi dọc Trường Sơn, tôi lặng lẽ lần qua từng khu rừng lá đổ. Những cây khộp già đăm chiêu trong chiều vắng, gió thổi hoài rát ruột lắm gió ơi.

Nữ chiến sĩ xăng dầu Trường Sơn

Ngày chia tay em kẹp tóc mảnh mai, dáng nhỏ thó đưa mắt nhìn rất vội. Vịn thành xe mưa giăng giăng ngõ tối, hương ngọc lan thảng thốt tỏa sau hè. Biền biệt em đi, biền biệt mẹ chờ. Chiều tựa cửa ngóng hoài về phương ấy. Phương ấy ơi, phương ấy là nỗi nhớ, Trường Sơn mờ ngăn ngắt một màu xa.

Những con đường hoàn thành, những đoàn quân đi qua. Trùng trùng quân đi hướng về chiến thắng. Chỉ những cánh rừng là im lặng, chiều mỏng manh bóng con gái nhạt nhòa. Đôi vai mảnh mai kia bao lần làm trụ đỡ cầu phà, bao lần em đứng làm cọc tiêu cho xe qua bến. Mà mưa bom  bão đạn…Tiếng con gái ngọt ngào nâng bước những đoàn quân .

Các cô gái Thanh niên xung phong Trường Sơn

Tôi lật chiều lật cỏ để tìm em, chỉ gặp biết bao điều bình dị. Ngang dọc những cánh  rừng con gái , nào đâu em thức ở phương nào?

Tôi đi nửa giờ xe để đến nơi ngày xưa em qua bằng một đời con gái. Bạt ngàn cao su rưng rưng nhựa trắng, lại gặp những bóng áo xanh một thời trận mạc. Lại gặp những vai tròn con gái, lại những tiếng cười trong trẻo tuổi hai mươi…

Em lẫn vào cây vào đất vào rừng, vào hôm nay khói hương nhòa nước mắt. Anh xin thay em chắp tay dõi về phương Bắc, một dáng chiều tựa cửa phơ phơ…

23/4/1999

Cô gái Giao liên

Tải đạn

Vượt suối, băng rừng

Posted in THỜI SỰ - CHÍNH TRỊ, VĂN HÓA - XÃ HỘI | Leave a Comment »

THAY BIA LÀ CHUYỆN TO, KHÔNG THỂ LẤP LIẾM ĐƯỢC

Posted by Mai Thanh Hải trên 27/07/2011

Phạm Xuân Nguyên tại Pắc Bó, Cao Bằng (8/2010)

Mai Thanh Hải Blog – Hôm trước, mình đăng bài “Đục bỏ thơ Hồ Chí Minh” của bác Phạm Xuân Nguyên, đăng trên Blog Quê choa của bác Nguyễn Quang Lập. Ngay lập tức, nhận được rất nhiều phản hồi, chủ yếu có hơi hướng… địa phương và có người còn mắng té tát mình vì “Mai Thanh Hải viết không đúng”, làm mình cười lăn. Hôm qua, đọc trên trang Phạm Viết Đào, thấy sự việc lại chuyển hướng theo cách khác với hình ảnh ông Trưởng Ban Quản lý Khu Di tích tận tình giải thích lý trấu lý do với ông Phạm Viết Đào. Sự việc này, chả dám bình luận, chỉ xin dẫn lại ý kiến của bác Ba Sàm: “Vì chiều lòng du khách nên Ban quản lý du khách làm thêm một phiên bản mới chồng lên để xem phản ứng của du khách…” (Phạm Viết Đào). Chuyện gây ồn ào, bác Đào công phu vô đó mà bài viết, hình ảnh còn sơ sài quá” và “Có lẽ vụ nầy là một điển hình cho một xã hội, với những con người quái đản/bệnh hoạn-ngu xuẩn/mù quáng nhất, từ giới chức (địa phương) cho tới người trí thức (Vũ Khiêu), về nhận thức chính trị, nhãn quan lịch sử, văn hóa, lòng tự trọng, v.v.. Tóm lại là họ làm tui muốn … MỬA (ÓI)!”.


Bài viết của Nhà Phê bình văn học Phạm Xuân Nguyên, sau khi có những phản ứng của địa phương và sự truyền tải, tuyên truyền của một số Blog.
———————————————————–

THAY BIA LÀ CHUYỆN TO, KHÔNG THỂ LẤP LIẾM ĐƯỢC

1. Việc thay tấm bia khắc lời Hồ Chí Minh viết bằng văn vần về Nguyễn Huệ đặt ở đền thờ Quang Trung (Vinh – Nghệ An) là cả chuyện to. Thứ nhất, lời đã được chọn, bia đã được khắc và dựng ngay khi đền được khánh thành. Thứ hai, lời đây là của Hồ Chí Minh, lãnh tụ tối cao của Đảng Cộng Sản Việt Nam, người anh hùng dân tộc của nước Việt Nam thế kỷ XX, mà tư tưởng và đạo đức của ông đang được Đảng phát động trong đảng ngoài dân học tập và làm theo. Thứ ba, đền thờ mới được khánh thành ngày 7/5/2008, như vậy tấm bia khắc mới được ba năm.

Đảo Đá Lát, Trường Sa

Theo thông tin tôi được biết, việc thay bia (chưa phải đục bỏ chữ trên bia mà là dùng một lớp composite dán đè lên rồi viết chữ mới vào) mới được thực hiện vào ngày 20/5/2011. Ngày 31/5/2011 tại thành phố Vinh có hội thảo “Hoàng đế Quang Trung với Phượng Hoàng – Trung Đô” do UBND TP Vinh, Viện khảo cổ học, Hội Sử học Việt Nam, Liên hiệp Khoa học Công nghệ – Tin học Ứng dụng (UIA) và Trung tâm nghiên cứu tiềm năng con người phối hợp tổ chức. Một chủ đề chính của hội thảo là tìm kiếm nơi mai táng hài cốt của hoàng đế Quang Trung. Nhiều nhà nghiên cứu khoa học, nhà ngoại cảm trong cả nước đã về dự hội thảo. Họ chắc chắn đã lên thăm đền thờ Quang Trung trên núi Dũng Quyết, trong số họ chắc chắn nhiều người trước đó đã từng lên đền thờ, đã biết có tấm bia khắc đoạn thơ của Hồ Chí Minh viết về Nguyễn Huệ đặt ở bên phải từ cửa vào. Nếu đúng là lớp composite phủ lên bia đã có từ ngày 20/5 thì sao họ không phát hiện ra chuyện này và lên tiếng? Mà nếu chính quyền thành phố Vinh và tỉnh Nghệ An muốn có một văn bản khác để thay thế văn bản của Hồ Chí Minh thì sao không tranh thủ cuộc hội thảo có nhiều bậc thức giả tụ hội về để hỏi ý kiến, đề xuất? Một tấm bia khắc lời lãnh tụ mới dựng ba năm đã vội vàng lấp liếm, thay thế bằng hành động dán đè lên khi chưa có quyết định, khi còn đang gọi là “thăm dò dư luận”, lại chỉ mới làm cách đây hai tháng, động thái đó có nghĩa là gì? Câu hỏi xin dành cho những người chịu trách nhiệm trước ngôi đền, trước Nguyễn Huệ, trước Hồ Chí Minh, trước nhân dân?

2 tấm bia “trên – dưới” (ảnh: Blog Phạm Viết Đào) 

 2. Trong những ý kiến phản hồi bài viết trước của tôi, có một số người cho biết lý do duy nhất được đưa ra ở Nghệ An để thay bia là có ai đó cho đoạn thơ của Hồ Chí Minh viết về Nguyễn Huệ nôm na, lại có chữ “kẻ” nghe không hay, không kính. Đây là một lý do vin vào hình thức bên ngoài mà thực ra là không hiểu biết gì về quan điểm nhân dân của Hồ Chí Minh.

Suốt đời ông Hồ viết và nói cốt cho dân dễ nghe, dễ hiểu, dễ làm. Nhất là khi ông mới về nước sau ba mươi năm ở nước ngoài. Tám mươi phần trăm dân chúng là nông dân, phần đông là thất học, mù chữ, muốn tuyên truyền tư tưởng cách mạng cho họ thì phải có cách nói làm sao cho họ dễ nhớ, dễ thuộc. Đặc biệt khi nơi đầu tiên tuyên truyền cho dân lại ở vùng núi. Cho nên ông Hồ đã trình bày những điều cao xa, sâu sắc bằng những ngôn từ giản dị, bằng lối nói khẩu ngữ để nhân dân thấy gần gũi, dễ hiểu. Toàn bộ bản diễn ca Lịch sử nước ta dài 208 câu lục bát ông Hồ viết năm 1941-1942 tại Cao Bằng chính là theo tinh thần ấy. Ông kể lần lượt các triều đại với công tích chính là chống giặc ngoại xâm bằng cách nêu tên người anh hùng dân tộc qua mỗi thời kỳ rồi đúc rút thành bài học. Bài học đó luôn luôn là sức mạnh đoàn kết toàn dân. Đoạn thơ ca ngợi Nguyễn Huệ là tập trung nhất, khái quát nhất cho truyền thống quý báu xuyên suốt lịch sử dân tộc đó. Câu chữ đơn giản mà chính xác, lời thơ mộc mạc mà sâu sắc, làm bật được tư tưởng lớn: Giặc Tàu dẫu hung hăng nhưng non sông nước nhà ta vẫn được dân ta giữ gìn trọn vẹn bởi dân ta biết cùng nhau một lòng và có người lãnh đạo chí cả tài cao. Một dân tộc đồng tâm nhất trí từ trên xuống dưới, từ người cầm quyền đến dân chúng, thì không một kẻ thù nào dù xảo quyệt, mạnh bạo đến đâu, có thể khuất phục. Đánh giá Nguyễn Huệ, đánh giá sức mạnh của Nguyễn Huệ và nhân dân như vậy thật là cao cả, tuyệt vời. Nhưng ở đây ông Hồ không chỉ nói về riêng về một cá nhân, một triều đại, ông khái quát bài học chung, ông rút ra tư tưởng lớn cho cả một trường kỳ lịch sử chống giặc phương Bắc của dân tộc Việt Nam. Chọn đoạn thơ này khắc vào bia đặt ở đền thờ Quang Trung, theo tôi, mới thật là đích đáng.

Phạm Xuân Nguyên trên sân bay đảo Trường Sa Lớn

Còn nói đoạn thơ của Hồ Chí Minh là “nôm na” thì chính sự nôm na đó lại phù hợp nhất với tinh thần, phong thái của “người anh hùng áo vải”. Nguyễn Huệ là người chân thật, mộc mạc trong lời ăn tiếng nói của mình, theo như các sử liệu để lại cho biết. Con người phi thường với thiên tài quân sự lỗi lạc khác lạ đó viết hịch đánh quân Thanh pha trộn cả lời Nôm và lời Hán “đánh cho để dài tóc / đánh cho để đen răng / đánh cho nó chích luân bất phản / đánh cho nó phiến giáp bất hoàn / đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ”. Chính Nguyễn Huệ khi lên ngôi hoàng đế đã có những quyết sách trong văn hóa và giáo dục để đưa chữ Nôm trước nay còn bị xem thường (“nôm na là cha mách qué”) lên địa vị chữ viết chính thức của nước nhà, khi lần đầu tiên trong lịch sử nhà nước phong kiến Việt Nam dưới thời ông chữ Nôm được đưa vào thi cử. Khi dân làng Văn Chương (Hà Nội) làm đơn đề nghị cho dựng lại những tấm bia Văn Miếu bị đổ do các trận binh đao, Nguyễn Huệ-Quang Trung đã phê vào đơn bằng hai câu nôm tuyệt vời: “Nay mai dựng lại nước nhà / Bia nghè lại dựng trên tòa nhân gian”. Tôi nhắc lại mấy sự kiện mà ai đọc sử cũng biết để thấy rằng đoạn thơ của người anh hùng dân tộc thế kỷ XX là có sự tương thông tinh thần xuyên lịch sử với người anh hùng dân tộc thế kỷ XVIII được nói đến. Vì vậy, khắc ghi những câu ca có vẻ như “nôm na” của Hồ Chí Minh tại đền thờ Quang Trung lại có thêm ý nghĩa nhắc nhở cháu con về một phương diện văn hóa đầy ý thức dân tộc của vị hoàng đế phi thường này.

Trong 208 câu của bản diễn ca lịch sử, ông Hồ ba lần dùng chữ “kẻ”. Đầu tiên là với ông vua sáng lập nhà Lý: “Công Uẩn là kẻ phi thường”. Y như câu cho Nguyễn Huệ. Ông Hồ chỉ dùng chữ “phi thường” cho hai nhân vật lịch sử này vì quả là họ phi thường thật: Lý Công Uẩn là người có nhãn quan chính trị lớn nên đã dời đô từ rừng núi về đồng bằng, mở đầu thời đại phát triển độc lập của quốc gia Đại Việt; Nguyễn Huệ là người có thiên tài quân sự đột biến trong lịch sử Việt Nam, đánh nhanh thắng nhanh, thần tốc, táo bạo. Nói vậy để thấy ông Hồ dùng chữ “kẻ” ở đây không hề là khinh xuất. Trước khi nói về Nguyễn Huệ, từ “kẻ” lại được ông Hồ dùng để chỉ cả ba anh em nhà Tây Sơn: “Nguyễn Nam, Trịnh Bắc đánh nhau / Thấy dân cực khổ mà đau đớn lòng / Dân gian có kẻ anh hùng / Anh em Nguyễn Nhạc nổi vùng Tây Sơn”. Chữ “kẻ”, như thế, dưới ngòi bút của Hồ Chí Minh không hề là xách mé, tầm thường, mang nghĩa coi nhẹ nhân vật. Ngược lại, nó chỉ người đáng trọng, đáng kính. Như trong tên gọi “ kẻ sĩ”. Như trong tục ngữ ai cũng biết: “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”. Hay trong câu đối truyền miệng: “Bác là kẻ cả trong làng / Tôi là người sang ở nước”. Lại cũng ở bản diễn ca có câu “Mấy năm ra sức Cần Vương / Bọn ông Tán Thuật nổi đường Hưng Yên” khi ông Hồ viết về cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy chống Pháp. Nếu vin vào bốn chữ “bọn ông Tán Thuật” để nói ông Hồ là “thất lễ” với tiền nhân thì quả đọc chữ không vỡ chữ.

Phạm Xuân Nguyên – Mai Thanh Hải tại cột mốc 422, Hà Giang

 3. Một phản hồi có dẫn ra công văn nói về việc tổ chức thi tuyển và thực hiện văn bia đền thờ Vua Quang Trung. Công văn này do UBND thành phố Vinh và Hội đồng thi tuyển và thực hiện văn bia đền thờ Vua Quang Trung đưa ra, được chủ tịch UBND thành phố là Nguyễn Hoài An ký. Theo như thời gian nhận bài thi được nêu trong công văn là từ 11/7/2008 đến 10/8/2008 và theo câu viết trong phần “Mục đích” cuộc thi rằng “Trên cơ sở nội dung đã được lựa chọn, phê duyệt, tiến hành xây dựng lại công trình văn bia xứng tầm với quy mô của công trình.” (mấy chữ in nghiêng của tôi – PXN) thì biết được là cuộc thi này nhằm để thay bia – thay hai tấm bia đã được dựng lên từ đầu ở đền thờ. Xin nhắc lại là đền thờ Quang Trung ở Vinh mới được khánh thành ngày 7/5/2008. Như vậy, vừa khánh thành đền thờ xong thì đã thay bia. Tại sao lại thế? Có phải đoạn thơ của Hồ Chí Minh được chọn và được khắc từ đầu là sai lầm? là không “xứng tầm với quy mô của công trình”? Mà thời gian nhận bài thi chỉ trong vòng một tháng, lại là thi văn bia – một thể loại cổ văn ngày nay ít người am hiểu và viết được, thì mong thu được cái gì? Rốt lại thì cái công văn này, theo người phản hồi cho biết, không phải là chính thức, mà chỉ là “bản dự thảo công văn, được gửi tới qua mail cho một số người được hỏi ý kiến trước.” Nếu như đây là có thật, thì nội một việc đó thôi đã cho thấy sự không nghiêm túc của những người lập bia, dựng bia, bỏ bia, và thay bia!

Thác Bản Giốc, Cao Bằng

 4. Tôi đang viết bài này thì nhận được mấy cú điện bảo vào trang blog Phạm Viết Đào đọc đi. Tôi vào thấy bài “Nghệ An không đục xóa thơ của cụ Hồ Chí Minh trên văn bia tại đền thờ Quang Trung”. Ông Đào viết: “Ông Trần Ngọc Lữ  (trưởng ban quản lý di tích) đã đưa tôi ra tấm bia để giải trình về chuyện này. Theo ông Lữ thì nhiều du khách đến thăm đền có đặt dấu hỏi: Tại sao lại gọi Hoàng đế Quang Trung là “kẻ; đây là bài thơ Cụ Hồ viết trước 1945, từ “kẻ“ không mang ý nghĩa miệt thị vì Hà Nội còn được gọi là “kẻ chợ“… Vì chiều lòng du khách nên Ban quản lý du khách làm thêm một phiên bản mới chồng lên để xem phản ứng của du khách… Vì thế nên đã dẫn tới sự hiểu nhầm: Nghệ An xóa thơ cụ Hồ Chí Minh viết về Quang Trung tại Đền thờ Quang Trung vừa được xây dựng trên núi Dũng Quyết…” Hình như ông bí thư tỉnh ủy Nghệ An cũng vừa tuyên bố như ông trưởng ban quản lý di tích này, nếu đọc trên một blog khác. Lạ thật. Lấy bản mới dán chồng lên bản cũ, che lấp bản cũ, không cho ai đọc được bản cũ, như vậy không gọi là xóa thì gọi là gì? Đâu phải đục bỏ bia thì mới coi là xóa bỏ. (Ở Hà Nội, tấm bia tưởng niệm Alexandre de Rhohdes ở đền Bà Kiệu trước đây cũng bị cất bỏ lâu nay trong kho, không được đem ra dựng ở đâu, thì như thế cũng coi như là xóa bỏ những lời ghi trên bia về công lao của vị giáo sĩ này đối với chữ quốc ngữ nước ta). Nói “chiều lòng du khách” thì là chiều lòng ai, khi những khách thắc mắc là đã có đọc tấm bia khắc lời ông Hồ, còn những khách đến sau thì sao, khi họ đã bị bịt mắt trước những lời ông Hồ nói về Nguyễn Huệ bởi lớp dán chồng lên đó? Rồi những khách thăm cũ, như tôi chẳng hạn, bây giờ trở lại đền thờ, muốn coi lại tấm bia có khắc đoạn thơ ông Hồ viết về Nguyễn Huệ mà mình đã biết (cũng là một dạng “thắc mắc” đấy, khi thấy bia bị dán đè lên) thì ban quản lý có “chiều lòng du khách” là tôi để lột bỏ lớp dán mới đi cho tôi được xem tấm bia cũ hay không? Nhưng điều nghiêm trọng ở đây là: Ở chốn đền thờ trang nghiêm, trên một tấm bia uy nghi, khắc ghi lời lãnh tụ, tại một khu di tích lịch sử cấp quốc gia, ai đã dám quyết định cho phép làm cái việc tày đình là dán đè, phủ lấp bài văn bia đang hiện có, mà chỉ với lý do “chiều lòng du khách”? Luật Di sản văn hóa có cho phép vậy không? Rồi nếu sau một thời gian thấy văn bản mới không hợp, không được du khách đồng tình, thì người ta lại thản nhiên bóc lớp dán ra, để lại phơi ra bản văn bia cũ, tức là đoạn thơ của Hồ Chí Minh, hay sao? Thật tùy tiện và cẩu thả hết chỗ nói. Dán một tờ thông cáo này đè lên một tờ thông cáo khác trên bản tin còn phải thận trọng, cân nhắc, huống chi đây là cả một tấm bia đá lớn, một tấm bia đá khắc ghi những lời đánh giá lịch sử của một vĩ nhân về một vĩ nhân. Như vậy, hành động dán đè lên bia còn tệ hại và nguy hiểm hơn đục bỏ bia. Tôi coi đó là hành động bịt miệng Hồ Chí Minh! Mà lý do vì sao thì tôi đã nói ở bài trước.

Dọc đường lên Tây Bắc

 5. Yếu tố Tàu trong chuyện này là không thể loại bỏ. Nhất là trong thời điểm hiện tại. Nếu không vì mấy chữ gọi nước láng giềng là Tàu, lại thêm những lời ca ngợi chiến công đánh Tàu của dân ta dưới tài thao lược của Nguyễn Huệ thì tôi dám chắc đoạn thơ của Hồ Chí Minh đã không bị xét nét đến nỗi đành chịu che phủ, dán đè. Nghĩ cũng là ghê. Những ý chê đoạn thơ không nói được công lao thống nhất đất nước của Nguyễn Huệ, hay chỉ nói giặc Tàu mà không nói giặc Xiêm, rõ ra là của người không chịu tìm hiểu lịch sử nước nhà. Xiêm chưa bao giờ là kẻ thù thường trực, nguy hiểm của nước ta. Tàu mới là mối nguy cơ chính. Công lao thống nhất đất nước, định vị một Việt Nam lãnh thổ và chủ quyền như ngày nay, là công của Nguyễn Ánh trên cái “mặt bằng” đã được Nguyễn Huệ dọn dẹp. Đó là sự thật lịch sử. Yếu tố Tàu trong chuyện này cho thấy sự nhạy cảm chính trị của những người có trách nhiệm ở Nghệ An là vừa có vừa không. Không là đối với nhân dân trong nước, họ dư biết rằng việc che lấp lời Hồ Chí Minh tại đền thờ Quang Trung một cách hấp tấp, tùy tiện vào thời điểm như hiện nay là động đến cả ý thức dân tộc và lòng yêu nước của dân ta, vậy mà họ vẫn làm ngang nhiên, đặt toàn dân trước việc đã rồi. Có là đối với ai đó bên ngoài, họ sợ những phản ứng của cái nơi được gọi thẳng tên trong bài văn bia. Mọi người có quyền suy luận và nghĩ như vậy trước thực tế những gì đã xảy ra quanh tấm bia mang lời Hồ Chí Minh nói về Nguyễn Huệ tại đền thờ Quang Trung trên núi Dũng Quyết (Vinh – Nghệ An).

            Tóm lại, thay bia là chuyện to, không thể lấp liếm được. Chỉ nêu câu hỏi chót: Nghệ An không xóa thơ Hồ Chí Minh trên bia, vậy khi nào Nghệ An bóc tấm dán đi để thơ Hồ Chí Minh lại hiện ra trên bia trước mắt mọi người? Hay rồi đây dựng tấm bia mới, còn tấm bia có lời ông Hồ sẽ bị đưa vào kho để chìm trong bóng tối mãi mãi, hoặc tệ hơn sẽ bị đục bỏ một cách âm thầm, và như thế là hoàn tất một quá trình dựng bia và phá bia mang ngôn từ và tư tưởng Hồ Chí Minh?

 Hà Nội 26.7.2011

Phạm Xuân Nguyên


Nguồn bài viết: Quê choa Blog

Posted in THỜI SỰ - CHÍNH TRỊ | Leave a Comment »

TRƯỜNG SA LỚN, THÁNG 5/1988

Posted by Mai Thanh Hải trên 26/07/2011

Các nhà báo, diễn viên trong chuyến ra công tác tại đảo Trường Sa Lớn, tháng 5/1988. Từ trái sang phải: Nam ngồi đầu tiên, đội mũ trắng là anh Phạm Đình Quát (Quốc doanh nhiếp ảnh Phú Khánh); nam ngồi cạnh, tóc dài là cố Nhạc sĩ Xuân An (Sở VHTT Phú Khánh), trong chuyến đi này, khi tới đảo Phan Vinh, chứng kiến và tham gia buổi tắm mưa với các bộ đội, Nhạc sĩ Xuân An đã sáng tác bài “Mưa Trường Sa” với lời ca, giai điệu mộc mạc, ân tình đầy chất lính nhưng cũng đấy khát khao cuộc sống, với những điều trong trẻo, tự nhiên: “Mưa! Trời mưa! Á ha, trời mưa! Từng đôi chân bay qua chiến hào, thoáng giây ngập ngừng, giữa thềm san hô, đón dòng nước ngọt” và “Mưa Trường Sa! Là giọt sương trên nụ hoa thắm tươi bình minh. Mưa Trường Sa, là nụ hôn cho tình yêu phút đầu gặp em… Mưa đi mưa đi đảo nhỏ chờ mưa. Mưa đi mưa đi, chúng tôi cần mưa...”; nữ đứng sau, giữa Phạm Đình Quát và Xuân An là ca sĩ Anh Đào; nữ đeo kính ngồi cạnh Xuân An là ca sĩ Thanh Thanh. Cả 2 chị là ca sĩ của Đoàn Ca múa Hải Đăng (Phú Khánh); Những người xung quanh là anh Nguyễn Viết Thái (đội mũ rộng vành, đứng sau Ca sĩ Thanh Thanh – phóng viên ảnh kiêm viết, chuyên theo dõi mảng Quân đội của Báo Phú Khánh) và các phóng viên của Tạp chí Hải quân, NXB Quân đội, Xưởng phim Quân đội, Đài Truyền hình TP.HCM, Quốc doanh Chiếu bóng Phú Khánh… và cán bộ Quân chủng Hải quân (Nguồn: Thiềm Thừ Blog)

Xin ngàn lần cảm ơn các anh chị và rất nhiều những anh chị khác đã mang những lời ca tiếng hát, điệu múa, thước phim, tấm ảnh, câu chuyện đất liền ra với bộ đội Trường Sa trong những ngày gian khổ, lửa đạn ấy. Sự có mặt của các anh chị trong những lúc “nước sôi lửa bỏng”, “hòn đạn mũi tên”, chấp nhận hy sinh bởi đạn thù, đã là nguồn động viên, niềm tin trực tiếp cho lính đảo, sẵn sàng hy sinh như những đồng đội đã hy sinh 1 tháng trước (14/3/1988), để bảo vệ Trường Sa. Các anh chị còn là nguồn chuyển tải cuộc sống, chiến đấu của đảo về đất liền, với người thân để lính đảo an tâm: “Cả đất liền đang dõi ra nhìn đảo”. Xin nghìn vạn lần cảm ơn các anh chị, đạp sóng biển, chấp nhận đạn bom, ra với lính đảo, những ngày 1988.


Bài hát: “Mưa Trường Sa”. Sáng tác và trình bày: Nhạc sĩ Xuân An

Posted in HÌNH ẢNH, QUÂN SỰ-QP, THỜI SỰ - CHÍNH TRỊ, TRƯỜNG SA-DK, TƯ LIỆU - TÀI LIỆU | Leave a Comment »

THẮP HƯƠNG LIỆT SĨ

Posted by Mai Thanh Hải trên 26/07/2011

Chào cờ Tổ quốc trên đỉnh chốt Biên phòng Lai Châu

Mai Thanh Hải Blog – Ngày 27/7. Xin thắp nén hương tưởng nhớ những người đã ngã xuống để bảo vệ Tổ quốc, toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ Việt Nam. 

Tự dưng, mình cứ luẩn quẩn với bài thơ in trong tập: “Hà Nội – Một thời trai chinh chiến”, không hiểu nhớ của tác giả nào, viết về tâm trạng người mẹ khóc con trai mình hy sinh nơi “xa lắc xa lơ”:


“Ngày con lên đường, phiếu xanh, bìa đỏ  

Mái phố nghèo ấm áp tiễn con đi 
Giấy gọi con vào Trường Đại học Y 
Mẹ xếp phẳng đợi con về đi học. 

Mộ Liệt sĩ Đỗ Khánh Hưng (hy sinh 2008), trên đảo Sơn Ca, Trường Sa

Bốn năm sau nhận tin con vừa mất 
Nơi chiến trường xa lắc, xa lơ 
Mẹ dại điên sống quanh quẩn bàn thờ 
Lúc nhắm mắt ôm con về với đất. 

Máu Mẹ chảy nơi chiến trường ác liệt 
Xương Mẹ tan cát bụi chỗ con nằm 
Vía gọi hồn khắc khoải đến ngàn năm 
Cỏ mãi xanh, khôn thiêng về với Mẹ”.


Tưởng nhớ đến người đã ngã xuống nhưng không quên tri ân những người còn đang sống, đã đóng góp 1 phần thân thể, phần đời và cả những người thân, ruột thịt cho những cuộc chiến tranh khốc liệt trên dải đất S.
————————————————————————————————–

Các cựu chiến binh thắp hương cho Liệt sĩ hy sinh tại Trường Sa (có mộ phần trên đảo Nam Yết), 5/2011

Lễ Tưởng niệm 64 Liệt sĩ hy sinh ngày 14/3/1988 trên vùng biển Cô Lin, Gạc Ma (4-2011)

Mộ Liệt sĩ, Thượng úy Phạm Văn Thế trên đảo Sơn Ca

Con gái Miu thắp hương cho các Liệt sĩ đồng hương Hà Tây, tại Nghĩa trang Trường Sơn (7/2006)

Ba Hải thắp hương cho các Liệt sĩ Trường Sơn (7/2010)

Ba Hải thắp hương cho Liệt sĩ hy sinh trên đảo Nam Yết, Trường Sa (4/2010)

Miu ở Nghĩa trang Trường Sơn
Mẹ Hằng và Khoai thắp hương các Liệt sĩ Thanh niên xung phong tại Đồng Lộc, Hà Tĩnh (11/2010)

Khoai đánh vần tên tuổi các Liệt sĩ  TNXP đã hy sinh trong Kháng chiến chống Mỹ 

Hoa cúc trắng gửi cho người nằm dưới lòng biển sâu

Posted in HÌNH ẢNH, QUÂN SỰ-QP, TRƯỜNG SA-DK, TƯ LIỆU - TÀI LIỆU | Leave a Comment »

CAY MẮT Ở ĐẢO PHAN VINH, THÁNG 5/1988

Posted by Mai Thanh Hải trên 25/07/2011

Ca sĩ Anh Đào (Đoàn Ca nhạc Hải Đăng, Phú Khánh) với các chiến sĩ bảo vệ đảo Phan Vinh, tháng 5/1988. Ca sĩ Anh Đào là người đầu tiên hát bài “Gần lắm Trường Sa” do nhạc sĩ Hình Phước Long sáng tác năm 1982 và đây là bài hát thành công nhất của chị. Những năm 80-90, mỗi khi có Đoàn từ đất liền ra thăm đảo, các chiến sĩ Trường Sa đều tíu tít hỏi: “Có ca sĩ Anh Đào không?”. Chuyến công tác ra Trường Sa tháng 5/1988 của Anh Đào, chỉ gần 1 tháng sau khi diễn ra sự kiện 14/3/1988 (khiến 64 cán bộ – chiến sĩ Hải quân Việt Nam hy sinh dưới làn đạn tấn công của lính Trung Quốc, tại vùng biển Cô Lin – Gạc Ma) là chuyến đi gian khổ nhất và đoàn công tác chấp nhận đụng độ với tàu chiến, lính Trung Quốc khi trên đường ra với đảo và các chiến sĩ Hải quân (ảnh: Nguyễn Viết Thái, nguồn: Thiềm Thừ Blog).

Posted in QUÂN SỰ-QP, TRƯỜNG SA-DK, TƯ LIỆU - TÀI LIỆU | Leave a Comment »

HY SINH VÌ TỔ QUỐC

Posted by Mai Thanh Hải trên 25/07/2011

Viếng đồng đội (Nghĩa trang Tân Biên, Tây Ninh)

Nhà thơ Thanh Thảo – Buổi sáng ngày 24/7/2011, tôi lặng lẽ leo 160 bậc đá lên tới đỉnh ngọn đồi ở Hoà An (Cao Bằng), nơi yên nghỉ của hàng trăm Liệt sĩ hy sinh vì Tổ quốc từ tháng 2/1979. Lên chỉ để thắp cho các anh một nén hương. Và đứng lặng rất lâu trước những ngôi mộ đang được huyện trùng tu.

Tôi đọc trên bia mộ: “ Liệt sĩ Hoàng Văn Dử, sinh tại Lạng Sơn, thuộc đại đội 10, trung đoàn 851, sư đoàn 346, hy sinh ngày 18/2/1979”; “ Liệt sĩ Triệu Quang Dũng, sinh tại Hoà An-Cao Bằng, thuộc sư đoàn 346, hy sinh ngày 24/2/1979”… Và đây nữa “ Liệt sĩ Nguyễn Văn Vân, sinh năm 1962 tại Đại Từ-Thái Nguyên, thuộc đại đội 14, sư đoàn 346, hy sinh ngày 5/10/1984”, nghĩa là anh Vân hy sinh sau khi đất nước thống nhất hơn 9 năm. Tất cả họ đã hy sinh khi giữ từng tấc đất, từng mỏm đá ngọn núi dòng suối của đất Cao Bằng.

Mai Thanh Hải tại nghĩa trang Trường Sơn

Và từ nơi địa đầu Cực Bắc của Tổ quốc, tôi lại như nhìn thấy Hoàng Sa thân yêu của Tổ quốc ta, nơi vào tháng 1/1974 đã xảy ra trận hải chiến khốc liệt và đã có 74 chiến sĩ người Việt Nam hy sinh khi quyết giữ Hoàng Sa tới giây phút cuối. Họ đã chết và chúng ta đã mất Hoàng Sa. Nhưng họ còn trong nỗi nhớ chúng ta, và Hoàng Sa thân yêu mãi mãi vẫn là “máu của máu Việt Nam, thịt của thịt Việt Nam”.

Tôi như nhìn thấy Trường Sa thương yêu của Tổ quốc ta, nơi tháng 3/1988 đã chứng kiến một cuộc chiến đấu hoàn toàn không cân sức giữa những chiến sĩ hải quân Việt Nam làm nhiệm vụ xây dựng đảo Gạc Ma, lúc đó không mang vũ khí bên mình và những tàu chiến của hải quân Trung Quốc trang bị vũ khí mạnh. 64 chiến sĩ của chúng ta đã hy sinh, nhưng chúng ta vẫn còn giữ được hai đảo Cô Lin và Len Đao.

Mộ Liệt sĩ Hải quân trên đảo Nam Yết

Tôi bỗng thấy những ngọn núi đá Cao Bằng dưới nắng mai vút lên rực rỡ một vẻ đẹp ngỡ ngàng, khiến ta trào nước mắt. Ai là người Việt Nam mà không yêu Tổ quốc mình đến quặn thắt, đến xót xa, ngay khi được ngắm nhìn những vẻ đẹp diệu kỳ của núi của sông của biển quê hương mình.

Xót xa vì cứ như từng tấc đất tấc biển đều thấm máu các Liệt sĩ . Là người Việt Nam, đã hy sinh vì Tổ quốc thì tất phải là Liệt sĩ. Nhưng nhiều Liệt sĩ đã ngậm cười nơi chín suối bao nhiêu năm song vẫn chưa chính thức nhận được danh xưng “Liệt sĩ” mà Tổ quốc tôn vinh cho những đứa con trung hiếu của mình.

Cứ quặn thắt trong lòng vì đất nước hoà bình đã 36 năm mà sự an nguy của Tổ quốc vẫn dồn nặng trên đôi vai những người chiến sĩ, dù là người chiến sĩ biên phòng suốt chiều dài biên giới 332 km của Cao Bằng hay người chiến sĩ giữ đất trời biển đảo Trường Sa.

Thành kính

Lòng biết ơn là một phẩm chất lớn của một dân tộc, cũng là một phẩm chất lớn của mỗi con người. Mà cao cả nhất của lòng biết ơn, là biết ơn những Liệt sĩ đã hy sinh vì Tổ quốc, vì nhân dân.

Lòng biết ơn ấy không thể hời hợt, không thể hình thức, đãi bôi, nó phải thấm sâu vào lòng mỗi người Việt Nam. Như máu hoà trong máu. Như một lời nguyền trong lặng lẽ: “ Không một ai bị lãng quên, không một điều gì bị quên lãng”( Thơ On-ga Bec-gôn-nữ thi sĩ Nga vĩ đại). Nếu lúc nào chúng ta lãng quên những Liệt sĩ của mình, chính là lúc ta đang sống vật vờ bên ngoài Tổ quốc.

Nhà thơ Thanh Thảo (gửi về từ Cao Bằng).

Posted in THỜI SỰ - CHÍNH TRỊ, VĂN HÓA - XÃ HỘI | Leave a Comment »

DANH SÁCH LIỆT SỸ HY SINH NGÀY 14/3/1988 TẠI TRƯỜNG SA

Posted by Mai Thanh Hải trên 25/07/2011

Bia ghi tên các Liệt sĩ tại Cam Ranh, Khánh Hòa

Mai Thanh Hải Blog – Ngay sau khi diễn ra sự kiện 14/3/1988 trên vùng biển Cô Lin – Gạc Ma (Trường Sa, Khánh Hòa), Nhà nước – nhân dân ta đã cực lực phản đối hành động dã man của nhà cầm quyền Trung Quốc và trên thực tế, đã có sự chuẩn bị – sẵn sàng đối phó nếu sự việc tương tự xảy ra một lần nữa. Minh chứng rõ nhất là những bài đăng trên Báo Nhân dân và tin – phóng sự trực tiếp từ hiện trường đảo chìm Cô Lin, do Nhà báo Trần Bình Minh (nay là Tổng Giám đốc Đài Truyền hình Việt Nam) thực hiện, phát liên tục trên sóng của Đài Truyền hình Việt Nam.

Chủ nhật vừa rồi, thấy bà con cầm tờ giấy A4 ghi tên những Liệt sĩ hy sinh ngày 14/3/1988, bạn mình dụi mắt lắc đầu: “Có những cái tên Liệt sĩ mới nghe lần đầu!”.

Đài Tưởng niệm

Hôm nay, thấy trang của TS Nguyễn Xuân Diện đăng Entry “Lời tạ lỗi”, do ai đó viết, gửi đến “Những người tham gia biểu tình và các công dân Việt Nam khác” (Nghe “hùng hồn” như thể… “Thánh chỉ”! Kinh!), mới thấy là bạn mình đúng. Té ra, người ta in tên mấy người còn đang sống, làm thành “Liệt sỹ hy sinh tại Trường Sa, 14/3/1988” và giơ ra, như… cán bộ chính sách.

Xin được nói rõ: Ngày 28/3/1988, Báo Nhân dân đã công bố danh sách 74 cán bộ, chiến sĩ Hải quân nhân dân Việt Nam “bị mất tích do tội ác của nhà cầm quyền Trung Quốc”. Sau này, đã xác định một số cán bộ – chiến sĩ bị phía Trung Quốc bắt làm tù binh. Như vậy, số chiến sĩ hy sinh trong ngày 14/3/1988 là 64 người và từ tháng 4/1988, những người nằm xuống đều được Nhà nước truy tặng Liệt sỹ, gia đình – người thân của họ đều được hưởng mọi chế độ dành cho Liệt sỹ

Bây giờ, nếu ai đi từ sân bay Cam Ranh về thành phố Nha Trang, nếu để ý sẽ thấy Tượng đài Tưởng niệm các quân nhân Liên Xô (cũ) và Việt Nam đã hy sinh vì hòa bình và ổn định khu vực bằng đá hoa cương cao trên 20 mét, với biểu tượng chiếc máy bay chiến đấu lao vút lên trời cao và 2 người lính công kênh bé em trên vai.

Tổ quốc và nhân dân ghi công các anh

Nếu ai đó thực sự tưởng nhớ, biết ơn 44 quân nhân Liên Xô/ Nga và 176 quân nhân Việt Nam đã ngã xuống ở khu vực Cam Ranh, miền Trung, hãy dừng lại thắp 1 nén hương, cúi đầu tưởng niệm và đọc tên những người đã nằm xuống. Những người lính hy sinh ở Cô Lin – Gạc Ma, Trường Sa năm 1988, đều có 1 ngày hy sinh chung nhất: 14/3.

Nhắc đến lịch sử là nhắc đến tính chính xác và tôn trọng sự thật. Nhất là sự thật này làm bằng máu, bằng mạng sống của 64 người lính Việt, rất trẻ và rất linh thiêng… trên vùng biển Cô Lin-Gạc Ma phẳng lặng, giữa sóng cuộn gió gào Trường Sa biển xanh, máu đỏ.
—————————————————————————

DANH SÁCH LIỆT SỸ HY SINH NGÀY 14/3/1988

(Danh sách do Phòng Chính trị, Lữ đoàn 146, Vùng 4 – Hải quân cung cấp)

Stt Họ tên Năm sinh Cấp bậc Chức vụ Nhập ngũ Đơn vị Quê quán
1 (2+39) Trần Văn Phương 1965 Thiếu uý B trưởng 3-1983 Gạc Ma Quảng Phúc, Quảng Trạch, Quảng Bình
2 (1) Trần Đức Thông 1944 Trung tá Lữ phó 146 4-1962 Gạc Ma Minh Hoà, Hưng Hà, Thái Bình
3 (40) Nguyễn Mậu Phong 1959 Thượng uý B trưởng 11-1977 Gạc Ma Duy Ninh, Lệ Ninh, Quảng Bình
4 (41) Đinh Ngọc Doanh 1964 Trung uý B trưởng 9-1982 Gạc Ma Ninh Khang, Hoa Lư, Ninh Bình (Cam Nghĩa, Cam Ranh, Khánh Hoà)
5 (42) Hồ Công Đệ 1958 Trung uý (QNCN) Y sĩ 2-1982 Gạc Ma Hải Thượng, Tĩnh Gia, Thanh Hoá
6 (43) Phạm Huy Sơn 1963 Chuẩn uý (QNCN) Y sĩ 2-1982 Gạc Ma Diễn Nguyên, Diễn Châu, Nghệ An
7 (44) Nguyễn Văn Phương 1969 Trung sĩ Cơ yếu 3-1987 Gạc Ma Mê Linh, Đông Hưng, Thái Bình
8 (45) Bùi Bá Kiên 1967 Trung sĩ Chiến sĩ 3-1986 Gạc Ma Văn Phong, Cát Hải, Hải Phòng
9 (46) Đào Kim Cương 1967 Trung sĩ Báo vụ 2-1985 Gạc Ma Vương Lộc, Can Lộc, Hà Tĩnh
10 (47) Nguyễn Văn Thành 1967 Trung sĩ Chiến sĩ 3-1982 Gạc Ma Hương Điền, Hương Khê, Hà Tĩnh
11 (48) Đậu Xuân Tứ (Tư) 1964 Trung sĩ Chiến sĩ 3-1985 Gạc Ma Nghi Yên, Nghi Lộc, Nghệ An
12 (49) Lê Bá Giang 1968 Hạ sĩ Báo vụ 3-1987 Gạc Ma Hưng Dũng, Vinh, Nghệ An
13 (50) Nguyễn Thanh Hải 1967 Hạ sĩ Quản lý 3-1986 Gạc Ma Sơn Kim, Hương Sơn, Hà Tĩnh
14 (51) Phạm Văn Dương 1967 Hạ sĩ A trưởng 3-1986 Gạc Ma Nam Kim 3, Nam Đàn, Nghệ An
15 (52) Hồ Văn Nuôi 1967 Trung sĩ Chiến sĩ 8-1985 Gạc Ma Nghi Tiến, Nghi Lộc, Nghệ An
16 (53) Cao Đình Lương 1967 Trung sĩ A trưởng 8-1985 Gạc Ma Trung Thành, Yên Thành, Nghệ An
17 (54) Trương Văn Thịnh 1966 Trung sĩ Chiến sĩ 8-1985 Gạc Ma Bình Kiến, Tuy Hoà, Phú Yên
18 (55) Võ Đình Tuấn 1968 Trung sĩ Quản lý 8-1986 Gạc Ma Ninh Ích, Ninh Hoà, Khánh Hoà
19 (56) Phan Tấn Dư 1966 Trung sĩ Báo vụ 2/1986 Gạc Ma Hoà Phong, Tây Hoà, Phú Yên
20 (3) Vũ Phi Trừ 1955 Đại uý Thuyền trưởng HQ604 Đội 10, Quảng Khê, Quảng Xương, Thanh Hoá
21 (101) Vũ Văn Thắng Thượng uý Thuyền phó HQ604 Văn Hàn, Thái Hưng, Thái Thụy, Thái Bình
22 (98) Phạm Gia Thiều 1962 Thượng uý Thuyền phó HQ604 Hưng Đạo, Đông Hạ , Nam Ninh , Nam Định
23 (99) Lê Đức Hoàng 1962 Trung uý Thuyền phó HQ604 Nam Yên, Hải Yên, Tĩnh Gia, Thanh Hoá
24 (102) Trần Văn Minh 1962 Thiếu úy (QNCN) Máy trưởng HQ604 Đại Tân, Quỳnh Long, Quỳnh Lưu, Nghệ An
25 (103) Đoàn Khắc Hoành 1959 Thượng sĩ Trưởng thông tin HQ604 163 Trần Nguyên Hãn, Q. Lê Chân, Hải Phòng
26 (106) Trần Văn Chức 1965 Hạ sĩ Nv cơ điện HQ604 Đội 1, Canh Tân, Hưng Hà, Thái Bình
27 (109) Hán Văn Khoa 1962 Trung sĩ Nv cơ điện HQ604 Đội 6, Văn Lương, Tam Nông, Phú Thọ
28 (111) Nguyễn Thanh Hải 1968 Hạ sĩ Chiến sĩ HQ604 Mỹ Ca, Chính Mỹ, Thuỷ Nguyên, Hải Phòng
29 (104) Nguyễn Tất Nam 1967 Hạ sĩ Chiến sĩ HQ604 Thường Sơn, Đô Lương, Nghệ An
30 (105) Trần Khắc Bảy 1967 Hạ sĩ Chiến sĩ HQ604 Lê Hồ, Kim Bảng, Hà Nam
31 (110) Đỗ Viết Thành 1964 Hạ sĩ Chiến sĩ HQ604 Thiệu Tân, Đông Sơn, Thanh Hoá
32 (113) Nguyễn Xuân Thuỷ 1967 Hạ sĩ Chiến sĩ HQ604 Phú Linh, Phương Đình, Trực Ninh , Nam Định
33 (120) Nguyễn Minh Tân 1956 Thượng uý E83 công binh HQ604 Dân Chủ, Hưng Hà, Thái Bình
34 (129) Võ Minh Đức 1968 Binh nhất Chiến sĩ E83 HQ604 Liên Thuỷ, Lệ Ninh, Quảng Bình
35 (131) Trương Văn Hướng 1966 Binh nhất Chiến sĩ E83 HQ604 Hải Ninh, TP Đồng Hới, Quảng Bình
36 Nguyễn Tiến Doãn Binh nhất A trưởng E83 HQ604 Ngư Thủy, Lệ Thủy, Quảng Bình
37 (133) Phan Hữu Tý 1966 Binh nhất Chiến sĩ E83 HQ604 Phong Thuỷ, Lệ Thủy, Quảng Bình
38 (140) Nguyễn Hữu Lộc 1968 Binh nhì Chiến sĩ E83 HQ604 tổ 22 Hoà Cường, Đà Nẵng
39 (141) Trương Quốc Hùng 1967 Binh nhì Chiến sĩ E83 HQ604 tổ 55, Hoà Cường, Đà Nẵng
4 (142) Nguyễn Phú Đoàn 1968 Binh nhất Chiến sĩ E83 HQ604 tổ 47, Hoà Cường, Đà Nẵng
41 (137) Nguyễn Trung Kiên 1968 Binh nhất Chiến sĩ E83 HQ604 Nam Tiến, Nam Ninh , Nam Định
42 (143) Phạm Văn Lợi 1968 Binh nhất Chiến sĩ E83 HQ604 Tổ 53, Hoà Cường, Đà Nẵng
43 (123) Trần Văn Quyết 1967 Binh nhì Chiến sĩ E83 HQ604 Quảng Thuỷ, Quảng Trạch, Quảng Bình
44 (146) Phạm Văn Sỹ 1968 Binh nhì Chiến sĩ E83 HQ604 tổ 7, Hoà Cường, Đà Nẵng
45 (144) Trần Tài 1969 Binh nhất Chiến sĩ E83 HQ604 tổ 12, Hoà Cường, Đà Nẵng
46 (145) Lê Văn Xanh 1967 Binh nhất Chiến sĩ E83 HQ604 tổ 38, Hoà Cường, Đà Nẵng
47 (139) Lê Thể 1967 Binh nhì Chiến sĩ E83 HQ604 tổ 29 An Trung Tây, Đà Nẵng
48 (138) Trần Mạnh Việt 1968 Binh nhì Chiến sĩ E83 HQ604 Tổ 36, Bình Hiên, Đà Nẵng
49 (121) Trần Văn Phòng 1962 Thượng uý C trưởng E83 HQ604 Minh Tân, Kiến Xương, Thái Bình
50 (122) Trần Quốc Trị 1955 Binh nhất A trưởng E83 HQ604 Đông Trạch, Bố Trạch, Quảng Bình
51 (147) Mai Văn Tuyến 1968 Binh nhì Chiến sĩ E83 HQ604 Tây An, Tiền Hải, Thái Bình
52 (127) Trần Đức Hoá 1966 Binh nhất Chiến sĩ E83 HQ604 Trường Sơn, Quảng Ninh, Quảng Bình
53 (125) Phạm Văn Thiềng 1967 Binh nhất Chiến sĩ E83 HQ604 Đông Trạch, Bố Trạch, Quảng Bình
54 (134) Tống Sỹ Bái 1967 Binh nhất Chiến sĩ E83 HQ604 Khóm 3, phường 1, Đông Hà, Quảng Trị
55 (135) Hoàng Anh Đông 1967 Binh nhì Chiến sĩ E83 HQ604 Khóm 2, phường 2, Đông Hà, Quảng Trị
56 (126) Trương Minh Phương 1963 Binh nhất Chiến sĩ E83 HQ604 Quảng Sơn, Quảng Trạch, Quảng Bình
57 (128) Hoàng Văn Thuý 1966 Binh nhất Chiến sĩ E83 HQ604 Hải Ninh, TP Đồng Hới, Quảng Bình
58 (131) Võ Văn Tứ 1966 Binh nhất Chiến sĩ E83 HQ604 Trường Sơn, Quảng Ninh, Quảng Bình
59 (100) Phan Hữu Doan 1960 Trung uý Thuyền phó HQ605 Chí Tiên, Thanh Hòa, Phú Thọ
60 (112, 114) Bùi Duy Hiển 1966 Trung sĩ Báo vụ HQ605 Thị trấn Diêm Điền, Thái Thuỵ, Thái Bình
61 (169) Nguyễn Bá Cường 1962 Thượng sĩ Học viên HVHQ HQ605 Thanh Quýt, Điện Thắng, Điện Bàn, Quảng Nam
62 (170) Kiều Văn Lập 1963 Thượng sĩ Học viên HVHQ HQ605 Phú Long, Long Xuyên, Phúc Thọ, Hà Nội
63 (171) Lê Đình Thơ 1957 Thượng uý (QNCN) Nv đoàn 6 HQ605 Hoằng Minh, Hoằng Hoá, Thanh Hoá
64 (172) Cao Xuân Minh 1966 Binh nhất Chiến sĩ đoàn 6 HQ605 Hoằng Quang, Hoằng Hoá, Thanh Hoá

Danh sách CBCS Hải quân mất tích, đăng trên Báo Nhân dân ngày 28/3/1988

Tên Liệt sĩ hy sinh 14/3/1988 tại Trường Sa, trên bia tưởng niệm đặt tại Cam Ranh


Posted in HÌNH ẢNH, QUÂN SỰ-QP, THỜI SỰ - CHÍNH TRỊ, TRƯỜNG SA-DK, TƯ LIỆU - TÀI LIỆU | Leave a Comment »

TƯỞNG NHỚ 64 LIỆT SĨ ĐÃ HY SINH TRONG KHI BẢO VỆ TRƯỜNG SA (NGÀY 14/3/1988)

Posted by Mai Thanh Hải trên 25/07/2011

Thiếu úy Trần Văn Phương và đồng đội giữ cờ Tổ quốc, đánh trả quân Trung Quốc trên đảo Gạc Ma, 14/3/1988

Mai Thanh Hải Blog – Trải qua 3 cuộc chiến tranh chống Pháp, chống Mỹ và chống quân Trung Quốc xâm lược trên biên giới phía Bắc cùng bè lũ phản động Pôn Pốt Iêng-Xary tại biên giới Tây Nam, hàng triệu người con đất Việt đã ngã xuống để giữ gìn đất nước, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ. Trong số này, còn hàng vạn người chưa tìm thấy hài cốt và thân xác các anh – các chị vẫn đang nằm lẫn giữa lá rừng, đất núi, đầm lầy, lòng biển sâu… 

Lễ truy điệu các Liệt sĩ hy sinh trong trận 14/3/1988

Một sự kiện xảy ra gần đây mà không phải ai cũng biết: Sáng ngày 14/3/1988, tại vùng biển Cô Lin – Gạc Ma, thuộc quần đảo Trường Sa (tỉnh Khánh Hòa, Việt Nam), lính đặc nhiệm Hải quân Trung Quốc đã ào ạt đổ bộ lên đảo Gạc Ma, giật cờ Tổ quốc và tấn công tốp chiến sĩ bảo vệ đảo thuộc Lữ đoàn 146 (Vùng 4, Hải quân Việt Nam) khiến toàn bộ đơn vị hy sinh – bị thương. Ngay sau đó, súng – pháo hạng nặng từ các tàu chiến đấu Trung Quốc đã trút đạn vào 3 tàu vận tải của Hải quân Việt Nam đang chở nguyên vật liệu xây dựng, củng cố đảo khiến cả 3 tàu bị chìm, bốc cháy ngay tại chỗ. Dã man hơn, súng – pháo của tàu chiến đấu Trung Quốc còn bắn thẳng vào đội hình công binh Hải quân của Trung đoàn 83, đang quần đùi áo may ô, tay không tấc sắt, vận chuyển gạch đá, xi măng, cát sỏi từ tàu lên đảo, không có khả năng kháng cự – tự vệ… khiến đại đa số cán bộ chiến sĩ trên đảo Gạc Ma trúng đạn, hy sinh ngay tại chỗ và thi thể chìm xuống lòng biển sâu hoặc vẫn mắc kẹt trong khoang tàu vận tải.

Pháo 37mm Trung Quốc bắn CBCS công binh Hải quân trên đảo Gạc Ma

Một số chiến sĩ bị thương, cố bơi thoát ra khỏi khu vực mù mịt đạn pháo, lính Trung Quốc trên tàu dùng súng tiểu liên AK bắn thẳng hoặc dùng câu liêm – gậy, bổ vào đầu, làm chìm mất xác… Đặc biệt, sau khi xảy ra sự việc, tàu chiến đấu Trung Quốc còn ngăn chặn không cho các tàu cứu hộ, tàu mang cờ Chữ Thập đỏ đến khu vực Cô Lin – Gạc Ma để tìm kiếm, cứu nạn thương binh và vớt thi thể tử sĩ.

Kết cục, ngày 14/3/1988, Trung Quốc đã chiếm đảo Gạc Ma, bắn cháy – chìm 3 tàu vận tải của Hải quân Việt Nam (HQ-505, HQ-604, HQ-605) và giết chết, bắt làm tù binh 74 cán bộ – chiến sĩ thuộc các đơn vị của Quân chủng Hải quân đang làm nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền Tổ quốc trên các đảo Cô Lin – Gạc Ma – Len Đao. Đó là các cán bộ – chiến sĩ thuộc các đơn vị: Lữ đoàn 146, Lữ đoàn Vận tải 125, Trung đoàn Công binh 83, Phân đội Hải đồ thuộc Bộ Tham mưu Quân chủng, Trường Sĩ quan Hải quân…

Chiến sĩ Hải đồ Trương Văn Hiền bị lính Trung Quốc bắt làm tù binh 14/3/88

Xin được nói thêm: Tháng 8/2008, trong khi hành nghề lặn biển tại khu vực Cô Lin – Gạc Ma, một số ngư dân Việt Nam đã phát hiện xác tàu HQ-604 bị chìm sâu dưới đáy biển và vớt lên được 4 hài cốt Liệt sĩ mắc kẹt trong tàu, chuyển giao cho Bộ Quốc phòng (khi mới vớt lên, 4 bộ hài cốt được quàn tạm trên đảo chìm Cô Lin). Ngay sau đó, phía ta đã triển khai việc tiếp tục tìm kiếm hài cốt Liệt sĩ hy sinh trên vùng biển Cô Lin – Gạc Ma, nhưng tàu quân sự Trung Quốc dùng mọi cách ngăn cản, ngăn chặn…

Nhân kỷ niệm 64 năm ngày Thương binh – Liệt sỹ (27/7/1947-27/7/2011), Mai Thanh Hải Blog lật lại một phần tư liệu về Chiến dịch CQ-88 của Hải quân nhân dân Việt Nam và sự kiện ngày 14/3/1988. Xin được xem như nén hương, tưởng nhớ linh hồn 64 cán bộ chiến sỹ Hải quân Việt Nam đã ngã xuống trên vùng biển Cô Lin – Gạc Ma, bởi pháo hạm, đạn nhọn, lưỡi lê của lính Trung Quốc và đến bây giờ, thi thể của các anh vẫn nằm im lặng dưới lòng biển sâu Trường Sa.
————————————————-
Quần đảo Trường Sa nằm ở tọa độ 8°38′ Bắc 111°55′ Đông, với diện tích (đất liền) nhỏ hơn 5 km², gồm khoảng 148 đảo nhỏ, đảo san hô và đảo chìm rải rác trên diện tích gần 410.000 km² ở giữa biển Đông. Quần đảo hiện đang trực thuộc đơn vị hành chính của huyện Trường Sa, tỉnh Khánh Hoà.

Đảo Trường Sa Lớn (5/2011)

Quần đảo Trường Sa có các nguồn lợi thiên nhiên gồm: Cá, phân chim, tiềm năng dầu mỏ và khí đốt còn chưa được xác định. Do nằm gần khu vực lòng chảo trầm tích chứa nhiều dầu mỏ và khí đốt, quần đảo Trường Sa có tiềm năng lớn về dầu khí. Hiện địa chất vùng biển này vẫn chưa được khảo sát nhiều và chưa có các số liệu đánh giá đáng tin cậy về tiềm năng dầu khí và khoáng sản khác. Trường Sa có vị trí chiến lược nằm gần tuyến đường vận chuyển tàu biển chính trên biển Đông.    
—————————–

Trước ngày 30/4/1975, Hải quân Việt Nam Cộng hoà đóng giữ các đảo Nam Yết, Sơn Ca, Song Tử Tây, Sinh Tồn và Trường Sa của quần đảo Trường Sa.

Từ ngày 14/4/1975 đến 29/4/1975, Đội 1 thuộc Đoàn 126 – Đặc công nước Hải quân, phối hợp với Đoàn 125 và một bộ phận của Tiểu đoàn 471, Đặc công Quân khu 5 lần lượt giải phóng và tiếp quản các đảo Song Tử Tây, Sơn Ca, Nam Yết, Sinh Tồn và Trường Sa.

Liệt sĩ Tống Văn Quang hy sinh 14/4/1975 khi giải phóng đảo Song Tử Tây

Tháng 4/1976, Quân chủng Hải quân tổ chức diễn tập đổ bộ, chống đổ bộ trên các đảo Trường Sa.

Tháng 2/1978, Philippines đưa quân chiếm đóng đảo Ponata, đồng thời tăng cường trinh sát quanh các đảo ta đã đóng quân.

Ngày 10/3/1978, quân ta đổ bộ lên đảo An Bang.

Ngày 15/3/1978, ta đóng giữ đảo Sinh Tồn Đông.

Ngày 30/3/1978, ta đóng giữ đảo Hòn Sập (Phan Vinh).

Ngày 4/4/1978, quân ta hoàn thành việc đóng giữ đảo Trường Sa Đông.

Đảo Phan Vinh, 1988 (ảnh: Thiềm Thừ Blog)

tháng 4/1978, 1 phân đội được đưa ra đóng giữ đảo Thuyền Chài, nhưng do điều kiện vật chất chưa bảo đảm nên tháng 5/1978, phân đội được rút về đất liền.

Ngày 8/5/1978, Trung đoàn 146 phòng thủ Trường Sa được thành lập. Năm 1980, đơn vị được nâng cấp thành Lữ đoàn 146 thuộc vùng 4 Hải quân, đóng tại Cam Ranh

Tháng 11/1978, Hải quân Malaysia vây đảo An Bang, nhưng tàu của họ phải rút đi sau 11 ngày gây áp lực với quân ta, nhưng không có kết quả.

Ngày 6/4/1983, ông Hồ Ngọc Nhường, Chủ tịch UBND tỉnh Phú Khánh (cũ) dẫn đầu đoàn công tác của tỉnh ra thăm và đặt mốc chủ quyền Việt Nam trên đảo Thuyền Chài.

Từ tháng 1/1987 đến giữa năm 1987, việc xây dựng nhà lâu bền trên đảo Thuyền Chài được lực lượng công binh Hải quân và tàu vận tải hoàn thành.

Đèn pha của tàu HQ-931 dùng để khảo sát ban đêm ở Ba Kè, Huyền Trân 1988

Cuối năm 1987, tình hình hoạt động của nước ngoài ở khu vực quần đảo ngày một phức tạp hơn, nhất là quanh các đảo Sinh Tồn, An Bang, Đá Tây, Song Tử Tây, Trường Sa Đông… Đặc biệt, Trung Quốc đã tổ chức tập trận ở khu vực Trường Sa từ 16/5 đến 6/6/1987.

Ngày 24/10/1987, Tư lệnh Hải quân nhân dân Việt Nam ra lệnh cho các đảo Trường Sa chuyển sang trạng thái sẵn sàng chiến đấu.

Ngày 25/10, quân ta đóng giữ thêm 4 đảo (Tiên Nữ, Đá Lớn, Đá Tây, Chữ Thập). Cuối năm có sóng to gió lớn, tuy gặp nhiều khó khăn nhưng các đơn vị đã hoàn thành suất sắc nhiệm vụ.

Trong những tháng đầu năm 1988, Trung Quốc cho quân chiếm đóng Đá Chữ Thập (31/1), tiếp đó đến các bãi đá Châu Viên (18/2), Ga Ven (26/2), Huy Gơ (28/2), Xu Bi (23/3) thuộc quần đảo Trường Sa.

Đô đốc Giáp Văn Cương đọc lời thề quyết tử bảo vệ Trường Sa (5/1988)

Đô đốc Tư lệnh Hải quân Giáp Văn Cương kiêm luôn Tư lệnh Vùng 4 Hải quân, vào căn cứ Cam Ranh lập Sở Chỉ huy để trực tiếp chỉ huy chiến dịch Chủ Quyền 88 (CQ-88).

Hải quân nhân dân Việt Nam khẩn trương đóng giữ các bãi Đá Tiên Nữ (26/1), Đá Lát (5/2), Đá Lớn (6/2), Đá Đông (18/2), Tốc Tan (27/2), Núi Le (2/3). Chúng ta đã bước đầu ngăn chặn được hành động mở rộng phạm vi chiếm đóng của Hải quân Trung Quốc.

Ngày 14/2/1988, tại vùng biển Trường Sa xuất hiện 3 tàu chiến của Trung Quốc lăm le định lên chiếm đảo chìm Đá Lớn. Đúng 1h30 ngày 15/2, tàu HQ-701 do biên đội trưởng Nguyễn Văn Tân và thuyền trưởng Hà Văn Thái chỉ huy (đang làm nhiệm vụ đưa hàng Tết ra đảo Nam Yết thì được lệnh neo cạnh Đá Lớn từ 6/2) đã được lệnh lao lên đảo. Chiếc tàu bị hỏng và trở thành chiếc lô cốt, bia chủ quyền trên đảo Đá Lớn.

Đầu tháng 3/1988, Trung Quốc huy động lực lượng của 2 hạm đội xuống khu vực Trường Sa, gồm: 1 tàu khu trục tên lửa, 7 tàu hộ vệ tên lửa, 2 tàu hộ vệ pháo, 2 tàu đổ bộ, 3 tàu vận tải hỗ trợ LSM, tàu đo đạc, tàu kéo và 1 pông tông lớn.

Dự đoán đối phương sẽ chiếm các đảo Gạc Ma, Cô Lin, Len Đao, Bộ Tư lệnh Hải quân chỉ đạo các tàu của Lữ đoàn vận tải 125 mang theo một số phân đội của Trung đoàn Công binh 83 và Lữ đoàn 146 nhanh chóng đến các đảo này.

Ngày 12/3/1988, tàu HQ-605 được lệnh từ đảo Đá Đông đến đóng giữ đảo Len Đao trước 6 giờ sáng ngày 14/3. Sau 29 tiếng hành quân, tàu đến Len Đao lúc 5 giờ ngày 14/3, cắm cờ Việt Nam trên đảo.

Công binh Hải quân tập kết đá xây nhà trên đảo Len Đao, tháng 5/1989

9h ngày 13/3, tàu HQ-604 và tàu HQ-505 được lệnh từ đảo Đá Lớn tiến về phía Gạc Ma, Cô Lin. 17 giờ ngày 13/3, tàu Trung Quốc áp sát uy hiếp các tàu HQ -604, 505 của ta

Đêm 13/3, quân ta bí mật đổ bộ, cắm cờ Việt Nam trên đảo Gạc Ma.

Sáng 14/3/1988, từ tàu HQ-604 đang thả neo tại Gạc Ma, Trung tá Trần Đức Thông, Lữ đoàn phó Lữ đoàn 146 (Vùng 4 Hải quân) phát hiện 4 tàu lớn của Trung Quốc đang tiến lại gần. Một tổ 3 người được cử lên đảo Gạc Ma bảo vệ Quốc kỳ.

Lính Trung Quốc lên xuồng đổ bộ tấn công Gạc Ma

Hải quân Trung Quốc thả 3 thuyền nhôm và 40 quân đổ bộ lên đảo. Lực lượng áp đảo nhưng không cướp được cờ trong tay những người lính Việt kiên cường, chúng đã bắn chết Thiếu úy Trần Văn Phương và chiến sĩ Nguyễn Văn Tư, đâm trọng thương Hạ sĩ Nguyễn Văn Lanh.

Nhưng đã có thêm hàng chục chiến sĩ ta từ tàu HQ-604 lao xuống biển bơi vào đảo theo lời kêu gọi của Trung tá Trần Đức Thông, tiếp tục xây lưng với nhau quây thành 1 vòng tròn để bảo vệ lá cờ thấm máu đồng đội.

Lính Trung Quốc bắn pháo 100 mm từ 2 chiến hạm vào tàu HQ-604, khiến tàu bị thủng nhiều lỗ và chìm xuống biển. Lữ đoàn phó Trần Đức Thông, Đại uý thuyền trưởng Vũ Phi Trừ và nhiều sĩ quan, chiến sĩ đã hy sinh cùng tàu HQ-604.

Tàu HQ-604 bị bắn cháy và chìm ngay tại chỗ

Tại đảo Cô Lin, tàu HQ-505 đã cắm 2 lá cờ trên đảo lúc 5h. Khi thấy tàu HQ-604 bị bắn chìm, thuyền trưởng tàu HQ-505 Vũ Huy Lễ ra lệnh nhổ neo, tăng tốc cho tàu ủi bãi trong làn pháo địch. Con tàu này đã kịp trườn được hai phần ba thân lên đảo trước khi bị tàu địch bắn cháy. Thủy thủ tàu HQ-505 vừa dập lửa cứu tàu, triển khai bảo vệ đảo, vừa đưa xuồng đến cứu thủy thủ tàu HQ-604 bị chìm ở phía bãi Gạc Ma.

Ở hướng đảo Len Đao, lúc 8 giờ20 ngày 14/3, tàu Trung Quốc bắn vào tàu HQ-605. Tàu 605 bị bốc cháy và chìm lúc 6 giờ ngày 15/3, thủy thủ đoàn của tàu bơi về đảo Sinh Tồn an toàn.

Hỏa lực địch tấn công Công binh Hải quân E83 trên đảo Gạc Ma

Mặc dù thua kém đối phương về lực lượng, phương tiện, vũ khí, trong trận chiến đấu ngày 14/3/1988, những người lính Hải quân nhân dân Việt Nam đã chiến đấu quên mình để bảo vệ chủ quyền của Tổ quốc. Chúng ta mất 3 tàu, 64 sĩ quan và chiến sĩ hy sinh hoặc mất tích, 11 người bị thương, nhưng đã bảo vệ được chủ quyền tại các đảo Cô Lin và Len Đao.

Trung Quốc chỉ chiếm được đảo Gạc Ma.

Các liệt sĩ Trần Đức Thông, Vũ Phi Trừ, Trần Văn Phương được truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Tàu HQ-505, thuyền trưởng Vũ Huy Lễ và Hạ sĩ Nguyễn Văn Lanh được tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND.

Di ảnh Liệt sĩ Trần Văn Phương

Di ảnh Trung tá – Liệt sĩ Trần Đức Thông
Thẻ Đảng viên của Anh hùng – Liệt sĩ Trần Đức Thông
Lá cờ Tổ quốc, Liệt sĩ Trần Văn Phương và đồng đội đã bảo vệ trên đảo Gạc Ma
Máy bơm nước của tàu HQ-931 dùng để dập lửa cứu tàu HQ-505 bị cháy ngày 14/3/1988
Tuyên bố của Bộ Ngoại giao Việt Nam về vụ Trung Quốc gây hấn 14/3/1988 đăng trên Báo Nhân dân (15/3/1988)
CBCS tàu HQ-671 tình nguyện cứu hộ đồng đội trong trận 14/3/1988
Tàu HQ-931 chở Thương binh – Liệt sĩ trong trận 14/3/1988 về Quân cảng Cam Ranh
CBCS tàu HQ-505 tham gia trận 14/3/1988 (chụp tháng 5/1988)
Hoạt động tích cực của Vùng 4 Hải quân trong Chiến dịch CQ-88

Trong năm 1988, quân ta đóng giữ thêm 11 bãi đá ngầm khác, nâng tổng số đảo đóng giữ tại quần đảo Trường Sa lên 21 đảo với 33 điểm đóng quân.

Từ tháng 6-1989, để tăng cường bảo vệ chủ quyền tại thềm lục địa tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tiếp giáp quần đảo Trường Sa, Hải quân nhân dân Việt Nam bắt đầu đóng giữ các bãi đá ngầm: Tư Chính, Phúc Nguyên, Phúc Tần, Huyền Trân, Quế Đừơng, Ba Kè. Tại đây chúng ta đã xây dựng nhiều trạm Kinh tế – khoa học – dịch vụ (DK1).

Hình tư liệu: Cục Chính trị, Vùng 4 Hải quân; Lữ đoàn 146; Thiềm Thừ Blog, Trung tâm Dữ liệu Hoàng Sa… và một số trang mạng xã hội khác

(Còn tiếp)

Posted in CHỦ QUYỀN - BIỂN ĐẢO, TRƯỜNG SA-DK | Leave a Comment »

TỔ HỢP PHÁO PHẢN LỰC BẮN LOẠT BM-21 NÂNG CẤP (9K51 GRAD), TRỊ GIÁ 1,2 TRIỆU USD

Posted by Mai Thanh Hải trên 24/07/2011

Kỹ thuật Quân sự – Tổ hợp Pháo phản lực 9K51 Grad nâng cấp, được thiết kế để tiêu diệt binh lực địch (cả trong lẫn ngoài công sự); các mục tiêu như: Xe tăng và các phương tiện bọc giáp nhẹ trú trong các bãi tập kết, các khẩu đội pháo, cối, máy bay và trực thăng trú đậu trên bãi đáp; trạm chỉ huy và các mục tiêu khác… cũng như, có thể dùng để rải mìn.

Cấu hình:

• Xe mang phóng BM-21-1 với hệ thống ngắm bắn cùng với thiết bị chuẩn bị bắn đồng bộ.
• Xe chở đạn 9T254 với các giá chứa đạn 9F37M chuẩn hoá
• Các loại đạn pháo phản lực đa dụng tăng cường tầm phóng và uy lực

Gói hiện đại hóa:
• Tăng tầm bắn lên tới 40 km
• Có khả năng diệt được các mục tiêu bọc giáp nhẹ và xe tăng
• Bắn từ các trận địa chưa được chuẩn bị trước
• Điều khiển nâng hạ, căn chỉnh dàn ống phóng bằng điện ngay từ trong cabin
• Tự định hướng, định vị tọa độ xe mang phóng cả khi di chuyển lẫn khi dừng đỗ
• Biểu tượng hóa vị trí chiến đấu của dàn phóng, hướng di chuyển và dừng đỗ của xe mang trên bản đồ điện tử
• Giảm thời gian chuẩn bị phóng từ khi được phân công mục tiêu tới khi khai hỏa
• Tăng khả năng chống phản pháo nhờ rút ngắn thời gian hiện diện của xe mang phóng tại trận địa.

Thông số kỹ thuật cơ bản:
Cỡ đạn phản lực (mm): 122
Tầm bắn (km):
– Tối đa: tới 40
– Tối thiểu: 5
Thời gian bắn hết loạt (giây): 20
Số ống phóng: 40
Trọng lượng (kg):
– Đạn cơ bản: 66.6
– Xe mang phóng đã nạp đạn: 13.700
– Xe chở đạn đủ cơ số: 13.600
Kíp pháo thủ (người): 3
Thời gian nạp đạn (phút): 7
Số đạn phản lực trên giá của xe chở đạn (quả): 60
Giá nâng cấp trọn gói ước tính: US$ 1.200.000

Posted in QUÂN SỰ-QP | Leave a Comment »